Chủ Nhật, 18 tháng 10, 2015

Về chương trình “Giai điệu tự hào” tháng 9-2015 (Bâng khuâng tháng 9) (Nguyễn Thượng Long)

“…Bên cạnh những nhạc sĩ, ca sĩ, văn nô, bồi bút…miễn là có tiền, vẫn còn có những trí thức văn nghệ sĩ như nhạc sĩ Quốc Trung và MC nổi tiếng Tạ Bích Loan. Trời Nam vẫn còn có những con người dũng cảm và trung thực như thế…”



Về chương trình “Giai điệu tự hào” tháng 9-2015 (Bâng khuâng tháng 9) (Nguyễn Thượng Long)


Những ngày này, với những ai còn chút ưu thời mẫn thế không thể không có những bâng khuâng, trăn trở rằng: Sau 85 năm ĐCS hiện diện trên mảnh đất đau khổ này (1930 – 2015) với 11 kỳ đại hội, đại hội đảng cộng sản lần thứ 12 sắp tới không biết sẽ có những đột phá chiến lược nào có thể làm thay đổi vận mạng chẳng ra gì của dân tộc mình không?

·  Không biết  chủ nghĩa Mác – Lê ở Việt Nam có còn là vô địch trong khi nó đã phá sản hoàn toàn trên phạm vi thế giới?

·  Không biết tên đảng có còn tính từ Cộng Sản nữa không, khi mà lý tưởng cộng sản đã bị thế giới văn minh chứng minh là ảo tưởng, thậm chí còn là nguồn gốc của tội ác và đã từ lâu bị các dân tộc văn minh ném vào sọt rác của lịch sử…?

·  Không biết đảng có còn duy trì Điều 4 Hiến Pháp để nắm giữ độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong tư cách của một thực thể chính trị siêu quyền lực phủ trùm lên Nhà Nước – Chính Phủ - Quốc Hội và ôm trọn cả Tứ Quyền (Lập Pháp – Hành Pháp – Tư Pháp – Thông tin báo chí)?

·  Không biết đảng có còn lấy “Sở hữu quốc doanh” và coi“Định hướng XHCN” là chủ đạo nữa không, trong khi nó được chính thực tế Việt Nam ngày ngày chứng minh đây chính là mảnh đất mầu mỡ của tham nhũng, chia chác, xin cho, thua lỗ, nợ nần, lạm phát…và là sân chơi riêng của các đại gia tư bản đỏ trong các nhóm lợi ích?

·   Không biết ĐCS Việt Nam sẽ thoát Trung thế nào khi lá bùa“16 chữ vàng và 4 tốt” của người Tầu vẫn được ngự trị ở vị trí trang trọng trong các mối bang giao quốc tế của đảng?

Trong khi những câu hỏi trên chưa có câu trả lời, tất cả vẫn còn là ẩn số thì những gì đã diễn ra ở hàng loạt các đại hội đảng cơ sở của các Tỉnh Thành – Huyện – Xã – Ban ngành trên cả nước đã làm người ta thất vọng khi vẫn thấy chân dung Mác – Lê vẫn ngự trị cùng với búa liềm và tượng bán thân ông Hồ, người đã đưa rước những tư tưởng của các ngoại nhân xa lạ này đến với dân tộc Việt Nam, một dân tộc có bản chất hiền hòa và hướng nội này…Như vậy hóa ra tất cả vẫn là “NGUYỄN Y VÂN” hay sao? Dân tộc này có tội lỗi gì trong tiền kiếp mà ngày được thoát u, thoát mê để tìm đến dân chủ như Đông Âu và Nga Xô cộng sản lại còn xa vời đến thế. Mọi khẳng định lúc này vẫn còn quá sớm và tất cả vẫn chỉ là phỏng đoán.

Nhưng… đâu có phải ai ai trong chúng ta cũng mê lú và run rẩy mãi trong sợ hãi, chấp nhận sống mà như chết giữa thế giới đầy biến động này. Chương trình “GIAI ĐIỆU TỰ HÀO THÁNG 9 – 2015” của VTV1 diễn ra vào tối 25/9 vừa qua đã làm không ít người giật mình, ngơ ngác khi lần đầu tiên hình tượng Lenin hoàn toàn vắng bóng. I-lích vĩ đại, sư phụ của ông Hồ hoàn toàn không có chỗ đứng trong đêm nhạc Nga tuyệt vời này. Trong 7 ca khúc Nga nổi tiếng được thể hiện, không có bài “Đỉnh núi Lenin” ngỡ làbất hủ, một thời sống động cùng nhiều thế hệ người Việt Nam, trong đó có thế hệ U70 – U80 chúng tôi. Bảy ca khúc Nga được chọn ra để luận bình, thưởng lãm hôm đó là: “Chiều hải cảng”,”Đôi bờ, “Chim họa mi đừng hót, “Cây Thùy Dương”, “Thời thanh niên sôi nổi”, “Giờ này anh về đâu”,và cuối cùng là“Chiều ngoại ô Moskva”, thường được thế hệ chúng tôi gọi tắt là “Chiều Moskva” lừng danh một thời.

Tôi biết bài “Đỉnh núi Lenin” từ giữa những năm 1960 của thế kỷ 20. Những người thầy dậy đại học của tôi từ Liên Xô trở về đã dậy cho chúng tôi hát bài hát này. Tôi cũng mang bài hát này đến những mái trường heo hút nằm trên miền cao Lạc Sơn – Vụ Bản - Hòa Bình suốt thập kỷ 1970. Trong một thời gian dài, mỗi khi nghe và cả mỗi khi hát ca khúc này là  một lần thầy trò chúng tôi cùng như bị rơi vào trạng thái nhập đồng khi nghĩ về “Thiên Đường Xô Viết”, nơi mà dù có phải đốt cháy cả đất nước này“Đảng” và “Bác” vẫn không thôi hướng dân tộc tìm đến.

Đỉnh núi Lenin (Nhạc:I. Miliutin – Lời: E. Đônmatôpxki)

“Bạn ơi đi với tôi, lên đỉnh núi khi trời chiều.
Đỉnh non của Lenin, lòng chan chứa tình yêu.
Bạn ơi ta ngó sang ,Thành Mạc Tư Khoa bên kia đồi.
Từ trên đỉnh núi cao, nhìn rộng đến chân trời,
ĐK: Kìa bao nhà máy, khói loang ngợp trời,
như áng mây chiều. Đẹp xinh rực rỡ
Ngôi sao đỉnh tháp Kremlanh.
Tỏa ánh hy vọng, ngôi sao rực chiếu bao niềm tin.Bạn ơi Mạc Tư Khoa thành phố hòa bình…”.
Có thể nói chính ca khúc này đã góp phần làm thế hệ U70, U80 chúng tôi thêm thấm đẫm tinh thần Nga từ đầu đến chân nên không ai có thể nghĩ lại có ngày Đông Âu cộng sản và LBCHXHCN Xô Viết (CCCP) sụp đổ tan tành nhanh đến thế. Chính nhờ sự bùng nổ thông tin của Internet mà cả nhân loại giờ đây đã biết… chỉ vì “Đấu tranh giai cấp”, “Bạo lực cách mạng” và“Chuyên chính vô sản”, những lời cửa miệng của Lênin lúc sinh thời mà nhiều chục triệu người trên thế giới, nhiều triệu người Việt Nam phải chết tức tưởi vì CCRĐ, vì chiến tranh loạn lạc …nên việc Liên Xô đột ngột tan vỡ và nước Nga sau ngót trăm năm dưới bóng Lênin nay lại có bộ dạng nhếch nhác như thế này và tượng đài Lênin bị giật đổ ở nhiều nơi trên thế giới là tất nhiên, là điều bình thường, là nhân quả, là cái giá phải trả mà thôi.

Tôi nghĩ rằng việc loại bỏ bài “Đỉnh núi Lenin” ra khỏi chương trình nhạc Nga hôm đó hoàn toàn không phải là một quyết định nông nổi và vô tình. Bằng quyết định đó,“Giai điệu tự hào”đã đưa ra thông điệp  mang tính thời đại thật sâu sắc rằng: “Chúng tôi vì đảng mà đã từng yêu mến nước Nga, đã từng si mê tâm hồn Nga…không có nghĩa là chúng tôi mãi mãi phải mù quáng, hạ mình trước  những giá trị không có thật, những thần tượng ảo”, thế thì trạng thái nhập đồng của thế hệ chúng tôi ngót nửa thế kỷ trước khi hát “Đỉnh núi Lenin” chỉ là những ảo giác đáng thương, những hoang tưởng thật thảm hại.

Bên cạnh việc loại bỏ bài hát “Đỉnh núi Lê nin” ra khỏi đêm nhạc Nga của mình, chương trình “Giai điệu tự hào tháng 9 – 2015” còn diễn ra cuộc đụng độ không tiền khoáng hậu giữa một bên là “Hội đồng già” trong đó có những gương mặt lừng danh bảo thủ như Phó GS - TS Đào Duy Quát nguyên phó ban tuyên giáo TW, nguyên TBT trang web ĐCS Việt Nam, như PGS - TS Nguyễn Thị Minh Thái, cây lý luận mỹ học khét tiếng đành hanh và bảo thủ trong tranh luận…với một bên là “Hội đồng trẻ” với những gương mặt điển hình như nhạc sĩ nổi tiếng Quốc Trung, MC nổi tiếng Tạ Bích Loan… Điều thống nhất đến tuyệt đối ở cả 2 hội đồng là tất cả họ đều là những người đã từng sống, học tập và làm việc nhiều năm ở Nga và họ cùng coi Liên Xô trước kia và Nga là tổ quốc thứ 2 của họ.

Ngoài những lời bình luận du dưa, đưa đẩy có tính vô thưởng vô phạt của cả 2 hội đồng, thì đỉnh điểm đáng chú ý nhất của cuộc đụng độ tập trung vào bài “Đôi Bờ” phiên âm theo tiếng Việt là“Đơvaberega”. Tên gốc của bài hát là “Pesnhia Masi” (Bài hát của Masa), nhạc của A.Espai, lời của G.Pôgienhian. “Đôi Bờ” là bài hát trong phim “Khát” xuất hiện lần đầu tiên ở miền Bắc Việt Nam trong những năm đầu 1960. Phần nhạc được ký âm vô cùng đơn giản chỉ có nốt đen và nốt trắng. Nội dung bài hát này mô tả một cuộc tình vô vọng giữa một cô gái với một chiến sĩ hồng quân. Người chiến sĩ hồng quân đó được cài vào hàng ngũ phát xít, còn cô gái gia nhập đội du kích. Người chiến sĩ hồng quân đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Dù đã biết người yêu của mình không còn nữa, cô vẫn cứ vò võ đợi chờ trong khổ đau. Lời Tiếng Việt của bài hát này đã bỏ hết những câu bi lụy, rã rời… chỉ giữ lại những lời mượt mà, chung thủy, tràn đầy thương yêu của những lứa đôi phải sống trong xa cách và đợi chờ.

Đôi Bờ

“Đêm dài qua dưới mưa rơi, em mong chờ anh  tới.
Cây cỏ hoa như nói lên lời, em hạnh phúc nhất đời.
Lòng em tin thắm thiết yêu anh, giữ tình đôi lứa ta.
Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa.”

Ngay sau khi ca sĩ hát bài “Đôi Bờ” dừng lời, PGS. TS Đào Duy Quát đăng đàn, chém gió vùn vụt khi ông khoe: “Tháng trước tôi mới đi Nga về, gặp cựu thứ trưởng văn hóa Nga, được đón tiếp và chiêu đãi ca nhạc. Tôi nghe ông ấy kể say mê về bài hát “Đôi Bờ”… đại ý là:

“Sau chiến thắng phát xít 1945, chính phủ Liên Xô đã truy tặng danh hiệu anh hùng cho chàng trai là người chiến sĩ hồng quân đã hy sinh đó. Nhưng…buồn thay! Cả gia đình anh cũng đã chết hết vì chiến tranh, không còn ai có thể đứng ra nhận danh hiệu đó, nên chính quyền đem tặng cho cô người yêu của anh ta và tất cả cùng ùa đến chúc tụng người phụ nữ đau khổ này bằng lời ca “Em hạnh phúc nhất đời…”.

Nhạc sĩ Quốc Trung, thành viên của “Hội đồng trẻ”, với nét mặt đăm chiêu, đầy những căng thẳng vì phải kìm nén, nhưng lại dùng ngôn ngữ rất khiêm nhường để đáp lại lời của một bề trên về mọi phương diện:

“Tôi không đồng ý nhận xét rằng, cô gái ấy là hạnh phúc nhất trên đời. Người phụ nữ bình thường nào trên đời cũng cần phải có chồng để cùng gây dựng hạnh phúc. Người ta đã coi một cô gái mất người yêu khi nhận danh hiệu anh hùng thay cho người yêu là“Em hạnh phúc nhất đời”… ca ngợi như thế là phản nhân văn…”

Khán phòng như lặng đi trước bình luận rất ôn tồn và đích đáng của nhạc sĩ Quốc Trung. Ông lớn Đào Duy Quát, người hùng tuyên giáo một thời tái mặt, chỉ còn biết lơ láo, nhìn trần nhà và chết lặng.

Thật bất ngờ và không may cho đức ông Đào Huy Quát, MC nổi tiếng du học báo chí ở Nga về, người mà tên tuổi gắn liền với cuộc chiến chống gian dối trong thi cử của Hà Tây cũ những tháng năm 2005 – 2006 …chị thản nhiên góp lời:

“Tôi vừa mới gặp chị Lavrenev Anna, giám đốc trung tâm khoa học và Văn hóa Nga ở Hà Nội. Tôi hỏi chị có biết bài “Đôi Bờ”không? Chị ấy nói bây giờ đến Việt Nam mới biết đấy. Chị Anna nói tiếp rằng nước Nga bây giờ, những bài hát ấy người ta quên hết rồi. Người trẻ cũng chẳng ai biết”…”…”Người ta chỉ nhớ khi người ta muốn nhớ. Khi người ta thích thì người ta xây dựng thành huyền thoại”.
Trường quay lại một lần nữa chết lặng, cả 2 MC của chương trình không giấu được vẻ lúng túng. Đức ông tuyên giáo một thời như ngồi phải tổ kiến lửa vẫn cố đấm cãi chày cãi cối lấy được: “Thông tin đó không đúng đâu”, lại khoe: “Tháng trước tôi dẫn một đoàn công tác qua Nga, dự cuộc chiêu đãi, được xem một ca sĩ 60 tuổi hát  và 3 chàng trai 18 tuổi hát nữa”.(Hic)


MC Tạ Bích Loan và tác giả bài viết này trong đêm 9/1/2007,
đêm bình chọn Người Đương Thời được yêu thích nhất 2006

Thật đáng buồn cho PGS/TS nguyên phó ban tuyên giáo TW Đào Duy Quát lúc nào cũng súng sính Mác – Lê đầy mình, đầy túi lại không hiểu được rằng, người ta mở tiệc, để đào kép hát hò đãi đằng ông chứ đâu có phải người dân Nga nào hôm nay trong đời sống thường nhật vẫn còn hát bài này. Cái ông ca sĩ Nga 60 tuổi và 3 cậu bé Nga 18 tuổi hôm đó hát “Đôi Bờ” thì có khác gì đâu“Giai Điệu Tự Hào” để 3 ca sĩ già Trần Hiếu, Trung Kiên, Quang Thọ hát “Chiều trên bến cảng” và cô ca sĩ còn quá trẻ, tôi không nhớ tên đã hát bài “Đôi Bờ”…chứ  đâu có phải thanh niên và ông già Việt Nam nào đã sống đến thời @ rồi mà vẫn còn ngẩn ngơ, lãng đãng, vấn vương và “Phiêu” cùng những bài hát này!

Những tưởng trên đất nước khổ đau và bất hạnh này, dân tộc đã hoàn toàn liệt kháng. Nhưng với việc loại bỏ bài hát “Đỉnh núi Lenin” ra khỏi chương trình “Giai điệu tự hào”, theo dõi cuộc tranh luận giữa nhạc sĩ  Quốc Trung cùng MC Tạ Bích Loan với đức ông tuyên giáo Đào Duy Quát ta thấy những khát vọng đòi sòng phẳng, minh định lại nhiều giá trị cơ bản, đòi gọi tên đúng cho những sự vật, sự việc, sự kiện méo mó trong quá khứ dù đã phủ dầy vết bụi của thời gian, vẫn đang là những cơn sóng ngầm không thể phủ nhận.

Qua chương trình “Giai điệu tự hào tháng 9 – 2015” này, theo tôi lời phản biện của nhạc sĩ Quốc Trung đã làm vợi bớt đi những nỗi đau đời mà nhiều triệu người phụ nữ Việt Nam có chồng, người yêu đã chết trong các cuộc chiến tranh tàn khốc trong quá khứ, đang phải sống cô đơn trong quyên lãng. Cộng đồng“NGƯỜI ĐƯƠNG THỜI” của VTV3 Đài truyền hình Việt Nam ngày nào có thể tự hào vì có người cầm cờ dũng cảm và trung thực là MC Tạ Bích Loan, kiên quyết không nói điều ngược ngạo.

Người đời thường than vãn nước Nam giờ đây: “Tuấn kiệt như sao buổi sớm / Nhân tài như lá mùa thu” (NT), và “Thạch Sanh thì ít – Lý Thông thì nhiều”. Bên cạnh biết bao những tấm gương yêu nước nhiệt thành thì đất nước cũng đã từng bao phen ê chề vì những gương mặt mốc như Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc, Mạc Đăng Dung, Hoàng Văn Hoan và danh sách loại này còn nối dài ở xã hội Việt Nam đương đại…thì chương trình “GIAI ĐIỆU TỰ HÀO 9 – 2015” diễn ra vào tối 25/9/2015 trên VTV1 Đài truyền hình Việt Nam đã cho chúng ta một hy vọng: Bên cạnh những nhạc sĩ, ca sĩ sẵn sàng hạ mình sống kiếp cầm ca, những trí thức, nhà văn, nhà báo sẵn sàng chấp nhận thân phận trí nô, văn nô, bồi bút…miễn là có tiền, vẫn còn có những trí thức văn nghệ sĩ như nhạc sĩ Quốc Trung và MC nổi tiếng Tạ Bích Loan. Trời Nam vẫn còn có những con người dũng cảm và trung thực như thế… tôi nghĩ rằng: Chúng ta không tuyệt vọng.

Vận nước rồi sẽ qua cơn “Bĩ Cực” để đến ngày “Thái Lai”, tôi vững tin vào những điều như vậy.     
                                                      
Hà Đông tháng 10/2015
Nguyễn Thượng Long

Nguyên giáo viên Địa Lý Hòa Bình – Hà Tây, “NĐT” GD – ĐT năm 2006.
Nơi ở: Số nhà 4 - Ngách 102/12 Văn La –  Phường Phú La – Hà Đông – Hà Nội.
ĐT: 0433521066 & 01652323836
Email: nguyenthuonglong571@gmail.com

Thứ Bảy, 17 tháng 10, 2015

Được mùa 'con cháu ông cha'

Những ngày qua, và nhất là hôm nay 16.10, khi Đại hội Đảng bộ một số tỉnh thành bế mạc và công bố Ban Chấp hành nhiệm kỳ mới, dư luận đặc biệt quan tâm đến những người trẻ tuổi được bầu vào những ghế “nóng”, nhất là Bí thư và Phó bí thư.
Có thể nói, nhân vật được sự chú ý nhất hôm nay là một người rất trẻ so với cương vị Bí thư Đảng bộ của một thành phố lớn hàng đầu cả nước, là ông Nguyễn Xuân Anh.
Theo báo điện tử Một Thế Giới, Đại hội Đảng bộ TP.Đà Nẵng ngày 16.10 đã bầu ông Nguyễn Xuân Anh, Phó bí thư thường trực Thành ủy Đà Nẵng giữ chức Bí thư, thay ông Trần Thọ. Báo cũng khẳng định rằng đến thời điểm này, có thể nói ông Nguyễn Xuân Anh là vị Bí thư Thành ủy trẻ nhất nước.
Ông Nguyễn Xuân Anh, tân Bí thư Thành ủy Đà Nẵng (Ảnh: Báo Tuổi Trẻ)
Ông Nguyễn Xuân Anh, tân Bí thư Thành ủy Đà Nẵng (Ảnh: Báo Tuổi Trẻ)
Ông Nguyễn Xuân Anh sinh năm 1976, trình độ tiến sĩ quản trị kinh doanh. Ông là con trai của nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Nguyễn Văn Chi. Ông Nguyễn Xuân Anh từng công tác tại báo Thanh Niên (hồi cùng chung cơ quan, tôi rất quý ông ấy và ông ấy cũng quý tôi bởi chung tính thẳng thắn), là Trưởng ban Quốc tế, sau đó chuyển về Đà Nẵng làm Phó giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư TP.Đà Nẵng, Phó chủ tịch thường trực UBND quận Liên Chiểu, Phó bí thư rồi Bí thư Quận ủy Liên Chiểu. Ông được điều động giữ chức Phó chủ tịch UBND TP.Đà Nẵng trước khi làm Phó bí thư Thành ủy.
Cũng trong Đại hội Đảng bộ TP.Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020, một nhân vật trẻ khác được dư luận rất quan tâm là ông Nguyễn Bá Cảnh. Sinh năm 1983, ông Nguyễn Bá Cảnh, con trai của cố Bí thư Thành ủy Nguyễn Bá Thanh, đã được Đại hội bầu vào Ban chấp hành Đảng bộ TP.Đà Nẵng nhiệm kỳ 2015-2020.
Ông Nguyễn Bá Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Đà Nẵng
Ông Nguyễn Bá Cảnh, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Đà Nẵng

Ông Cảnh tốt nghiệp Đại học Kinh tế Đà Nẵng, du học ở Anh, lấy bằng thạc sĩ quản trị công. Trở về công tác tại Đà Nẵng, ông từng giữ chức vụ Phó bí thư thường trực Thành đoàn từ cuối năm 2011. Hiện ông làm Bí thư Thành đoàn Đà Nẵng.
Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, những thông tin từ các Đại hội Đảng bộ tỉnh thành được người dân hết sức chú ý. Sự quan tâm ấy không phải chỉ bởi họ muốn biết ai sẽ là người đứng đầu bộ máy lãnh đạo ở địa phương mà còn tò mò muốn biết những con ông cháu cha nào sẽ nối gót cha anh mình. Chính vì vậy, khi Đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang công bố danh sách Ban Chấp hành mới, các cơ quan báo chí và nhân dân đã nhắc nhiều đến một nhân vật trẻ, ông Huỳnh Thanh Phong, Giám đốc Sở Công Thương Hậu Giang, đạt 226/320 phiếu, xếp thứ 49/52 ứng viên được bầu.

Ông Huỳnh Thanh Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Hậu Giang
Ông Huỳnh Thanh Phong, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Hậu Giang
Ông Huỳnh Thanh Phong sinh ngày 23.12.1982, vào Đảng ngày 22.2.2012,  cử nhân ngành tài chính, tín dụng. Trước khi làm Giám đốc Sở Công Thương, ông Phong từng giữ chức Trưởng phòng Tín dụng, Quỹ đầu tư và phát triển tỉnh Hậu Giang, được bầu làm Phó giám đốc quỹ này hồi tháng 5.2014.
Nhiều người còn biết ông là con trai ông Huỳnh Minh Chắc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy. Ông Chắc đã làm đơn xin thôi chức Bí thư, nghỉ trước tuổi hồi tháng 7 vừa rồi. Đến tháng 10, đơn của ông Chắc được Bộ Chính trị chấp thuận. Ông đã nhận quyết định thôi giữ chức Bí thư Tỉnh ủy nhưng hiện ông vẫn là Trưởng đoàn Đại biểu quốc hội tỉnh Hậu Giang.
Một nhân vật khác từng thu hút sự chú ý của dư luận là ông Nguyễn Minh Triết. Ông sinh năm 1990, là con trai út của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, từng tốt nghiệp thạc sĩ tại Anh quốc.
Ông Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bình Định, được coi là tỉnh ủy viên trẻ nhất nước khi mới 25 tuổi
Ông Nguyễn Minh Triết, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Bình Định, được coi là tỉnh ủy viên trẻ nhất nước khi mới 25 tuổi
Cuối tháng 6.2014, khi mới 24 tuổi, đang giữ chức vụ Phó ban Thanh niên trường học Trung ương Đoàn, Giám đốc Trung tâm hỗ trợ – phát triển sinh viên Việt Nam, ông Triết được Ban Bí thư Trung ương Đoàn cử về làm Phó bí thư Tỉnh đoàn Bình Định nhiệm kỳ 2013-2017 theo chương trình đưa cán bộ đi đào tạo thực tế tại cơ sở.

Sau đó, ông Triết đảm nhiệm chức Bí thư Tỉnh đoàn Bình Định. Tháng 12.2014, ông Triết được Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định nhiệm kỳ 2010-2015.
Sáng 16.10, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định đã công bố danh sách 55 người trúng cử vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020, ông Triết đã trúng cử vào Ban Chấp hành mới. Theo báo Vietnamnet, ông Triết là người trẻ tuổi nhất trúng cử.
Ông Triết có anh trai là ông Nguyễn Thanh Nghị, 39 tuổi, tiến sĩ khoa học xây dựng, từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Xây dựng, hiện là Phó bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang. Ông Nghị vừa được bầu vào cương vị mới quan trọng hơn, là Bí thư Tỉnh ủy tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang trong phiên họp Ban Chấp hành tối 16.10. Như vậy hai anh em ông Nghị-ông Triết, tức hai con trai của thủ tướng kỳ này đều đắc cử.
Vài ngày trước đó, một trong những nhân vật tạo ra sự chú ý đặc biệt cho báo giới và dư luận là ông Lê Phước Hoài Bảo, 30 tuổi (sinh năm 1985), Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư Quảng Nam trúng vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2015-2020. Ông Bảo là con trai của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Lê Phước Thanh. Ông Bảo tốt nghiệp Trường đại học Kinh tế Đà Nẵng, chuyên ngành Tài chính tín dụng. Từ tháng 8.2010 đến tháng 8.2012 ông Bảo được cử đi học thạc sĩ chuyên ngành Quản trị tài chính và chiến lược tại trường Claremont Graduate University, Mỹ. Ông từng giữ chức Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư của Ban quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, sau đó tháng 3.2014 được bầu làm Phó chủ tịch UBND huyện Thăng Bình.
Sau đó, ông Triết đảm nhiệm chức Bí thư Tỉnh đoàn Bình Định. Tháng 12.2014, ông Triết được Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ định tham gia Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Định nhiệm kỳ 2010-2015. Sáng 16.10, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định đã công bố danh sách 55 người trúng cử vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020, ông Triết đã trúng cử vào Ban Chấp hành mới. Theo báo Vietnamnet, ông Triết là người trẻ tuổi nhất trúng cử. Ông Triết có anh trai là ông Nguyễn Thanh Nghị, 39 tuổi, tiến sĩ khoa học xây dựng, từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Xây dựng, hiện là Phó bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang. Ông Nghị vừa được bầu vào cương vị mới quan trọng hơn, là Bí thư Tỉnh ủy tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang trong phiên họp Ban Chấp hành tối 16.10. Như vậy hai anh em ông Nghị-ông Triết, tức hai con trai của thủ tướng kỳ này đều đắc cử. Vài ngày trước đó, một trong những nhân vật tạo ra sự chú ý đặc biệt cho báo giới và dư luận là ông Lê Phước Hoài Bảo, 30 tuổi (sinh năm 1985), Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư Quảng Nam trúng vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam nhiệm kỳ 2015-2020. Ông Bảo là con trai của Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Lê Phước Thanh. Ông Bảo tốt nghiệp Trường đại học Kinh tế Đà Nẵng, chuyên ngành Tài chính tín dụng. Từ tháng 8.2010 đến tháng 8.2012 ông Bảo được cử đi học thạc sĩ chuyên ngành Quản trị tài chính và chiến lược tại trường Claremont Graduate University, Mỹ. Ông từng giữ chức Trưởng phòng Xúc tiến đầu tư của Ban quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai, sau đó tháng 3.2014 được bầu làm Phó chủ tịch UBND huyện Thăng Bình.
Hồi tháng 7, ông Lê Phước Thanh từng gây xôn xao dư luận khi làm đơn gửi Bộ Chính trị xin thôi chức Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam mặc dù chưa hết nhiệm kỳ, đề nghị cho nghỉ hưu sớm bởi lý do sức khỏe. Đến đầu tháng 9, Bộ Chính trị đã chuẩn y đơn của ông Thanh.
Tại TP.HCM, một đô thị đặc biệt sôi động, đứng hàng đầu cả nước về nhiều mặt, trong đó có cả việc mạnh dạn cất nhắc sử dụng những người trẻ, thì người trẻ luôn có chỗ đứng và cơ hội phát triển. Chắc không mấy ai quên, hồi tháng 8 vừa qua, Thành ủy TP.HCM đã điều động nhân sự về làm lãnh đạo một số quận huyện, trong số đó có nhân vật đặc biệt: ông Lê Trương Hải Hiếu.
 Nói đặc biệt là bởi ông Hiếu là con trai đương kim Bí thư Thành ủy Lê Thanh Hải. Nhưng đặc biệt hơn bởi ông mới 34 tuổi, từng giữ các chức vụ quan trọng: Bí thư Đảng ủy phường Bến Thành (phường trọng điểm của thành phố), Phó chủ tịch UBND quận 1 (quận trọng điểm), lần này thì được điều động giữ chức Phó bí thư Quận ủy, Chủ tịch UBND quận 12. Tại Đại hội Đảng bộ TP.HCM lần thứ 10, nhiệm kỳ 2015-2020 đang diễn ra, dư luận nhận xét rằng ông Hiếu thuộc lớp cán bộ lãnh đạo trẻ mà thành phố đang đặt nhiều hy vọng. Tuy nhiên, lần này, có lẽ vì lý do tế nhị nên ông Hiếu không có tên trong Ban Chấp hành Đảng bộ cái thành phố mà chính cha ông đang làm Bí thư.
Các “thái tử đảng” (theo cách gọi của nhà báo Trương Duy Nhất) đã tạo nên hội chứng tuổi 30, đủ cả khen chê, lời ra tiếng vào. Tuy nhiên, chưa bao giờ người ta lại lẩm nhẩm câu “Con vua thì lại làm vua/Con sãi ở chùa lại quét lá đa” nhiều như lúc này.
Nguyễn Thông (blog Thongcao)
( http://www.danchimviet.info/archives/98734/duoc-mua-con-ong-chau-cha/2015/10)

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015


Vũ Hoàng Chương thấu thị lẽ vô thường Tâm Nhiên



Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sinh năm 1916, quê gốc Nam Định. Lớn lên ở Hà Nội,  đỗ tú tài 1937, Nho học, Tây học đều thông suốt, học Luật khoa nửa chừng rồi bỏ. Có một thời làm kiểm soát sở Hỏa xa Đông Dương rồi cũng bỏ, đi dạy học ở Thái Bình, Hải Phòng. Sống phóng khoáng giang hồ lãng tử. Từ năm 1940 mới 24 tuổi đã xuất bản tác phẩm đầu tay Thơ say, gây hào hứng bừng dậy một làn gió mới trong giới văn nghệ sĩ Hà thành lúc bấy giờ. Sau đó lần lược ấn hành những tập thơ Mây (1943) Trương Chi (1944) Thơ lửa (1947) Thằng Cuội (1952).
Đến năm 1954 Vũ Hoàng Chương rời bỏ Hà Nội, lên đường di cư vào Sài Gòn, tiếp tục nghề dạy học và tất nhiên là viết văn làm thơ. Hòa nhập nhanh chóng vào sinh hoạt văn nghệ miền Nam, ngay cuối năm 1954 đã cho ra mắt liền thi phẩm Rừng phong tại Sài Gòn. Năm 1959 tập thơ Hoa đăng đoạt giải nhất về thi ca. Cũng năm này, thi sĩ sang Bỉ dự hội nghị Thi ca Quốc tế, rồi sang Thái Lan dự Văn bút Á Châu (1964) qua Nam Tư dự Văn bút Quốc tế (1965). Từ năm 1969 đến 1973 Chủ tịch Trung tâm Văn bút Việt Nam.
Ở Sài Gòn, Vũ Hoàng Chương có Gác Mây là nơi lui tới của anh em văn nghệ bốn phương. Được thở bầu không khí tự do trên mảnh đất mới, khơi dậy hồn thơ bẩm sinh vốn đa tình đa cảm, thi sĩ như nhập vào suối nguồn sáng tạo trào tuôn lai láng nên nhiều thi phẩm tâm đắc ra đời như Tâm sự kẻ sang Tần (1961) Cảm thông (1961) Trời một phương (1962) Lửa Từ bi ( 1963 ) Ánh trăng Đạo lý (1966) Bút nở hoa đàm (1967) Cành mai trắng mộng (1968) Ta đợi em từ ba mươi năm (1970) Ngồi quán (1971) Đời vắng em rồi say với ai ? (1971) Chúng ta mất hết chỉ còn nhau (1973) và Ta đã làm chi đời ta ? (1974).
Ta đã làm chi đời ta ? Là một tập hồi ký, nhà thơ kể lại chuỗi ngày tháng lang thang lêu lổng với giới văn nghệ sĩ, những cuộc ngao du phiêu bồng đây đó thời thanh xuân tuổi trẻ trước 1954 ở miền Bắc.
Vũ Hoàng Chương là một thi sĩ vĩ đại của văn học Việt Nam, một nhà thơ trữ tình lãng mạn, chứa chan cả trời thơ đất mộng lung linh. Tình thơ chất ngất bay cao vút tận đỉnh trời lồng lộng, ý thơ nồng nàn tha thiết, cháy bỏng bao nỗi niềm rung ngân bất tuyệt những tiếng lòng vọng lên từ sâu thẳm tâm tư.
Từ tính chất ưa tự do phóng đãng, thích phiêu lãng tang bồng, thi sĩ bỏ xứ ra đi làm một gã phong trần với túi thơ bầu rượu ngất ngưởng nghêu ngao. Thời tiền chiến ở miền Bắc, hình như phủ trùm lên một bầu khí hậu u buồn thảm đạm sao đó, khiến cho hầu hết giới thanh niên trẻ tuổi đều mang tâm trạng lạc lõng bơ vơ, đi mà chẳng biết đi về đâu giữa biển đời lênh đênh không bờ bến :
Nhổ neo rồi thuyền ơi xin mặc sóng
Xuôi về Đông hay dạt tới phương Đoài
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi
Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh
Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
Một đôi người u uất nỗi trơ vơ
Đời kiêu bạt không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ
Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt
Treo buồm cao cùng cất tiếng hò khoan
Gió đã thổi nhịp trăng chiều hiu hắt
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan
Thuyền viễn xứ chèo qua dòng Suối mơ huyền ảo Văn Cao hay Con thuyền không bến bềnh bồng theo Đặng Thế Phong là những cuộc lữ long đong của cả một thế hệ bơ vơ, ngơ ngác chẳng biết về đâu giữa ngã ba đường. Đó là buổi giao thời xung đột giữa cái cũ và mới, giữa Đông và Tây, giữa Cộng sản và Tư bản. Cùng thời với Vũ Hoàng Chương có Quang Dũng, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, Huy Cận, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Tô Hoài, Thế Lữ… Hầu như trước sự bế tắt tâm tư thời đại, tất cả những tâm hồn nhạy cảm ấy đều tìm đến men rượu say tình cho nguôi ngoai đi nỗi sầu thế sự, Vũ Hoàng Chương cũng đắm chìm trong hương vị túy lúy cuồng ca quá đỗi trằn trọc, quằn quại thê lương :
Trăng của nhà ai trăng một phương
Nơi đây rượu đắng mưa đêm trường
Ồ ! Đêm tháng sáu mười hai nhỉ
Tố của Hoàng ơi ! Hỡi nhớ thương
Là thế là thôi là thế đó
Mười năm thôi thế mộng tan tành
Mười năm trăng cũ ai nguyền ước
Tố của Hoàng ơi ! Tố của anh
Tháng sáu mười hai từ đấy nhé !
Chung đôi từ đấy nhé lìa đôi
Em xa lạ quá đâu còn phải
Tố của Hoàng xưa Tố của tôi
Men khói đêm nay sầu dựng mộ
Bia đề tháng sáu ghi mười hai
Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc
Tố của Hoàng nay Tố của ai ?
Tay gõ vào bia mười ngón dập
Mười năm theo máu hận trào rơi
Học làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp
Khúc Cổ bồn ca gõ hát chơi :
Kiều Thu hề Tố em ơi !
Ta đang lửa đốt tơi bời Mái Tây
Hàm ca nhịp gõ khói bay
Hồ xừ xang xế… bàn tay điên cuồng
Kiều Thu hề trọn kiếp thương
Sầu cao ngùn ngụt mấy đường tơ khô
Xừ xang xế xự xang hồ
Bàn tay nhịp gõ điên rồ khói lên
Kiều Thu hề Tố hỡi em
Nghiêng chân rốn bể mà xem lửa bừng
Xế hồ xang… khói mờ rung
Nhịp vương sầu tỏa năm cung ngút ngàn
Mang mang thiên địa sầu là một mối sầu thương khủng khiếp đoạn trường. Phải chăng đó là điều thường xảy ra trong những cuộc tình du dương thắm thiết của tài tử giai nhân ? Những cuộc tình si đầy chất tương tư ủy mị, vì có thể làm cho người ta đi đến chỗ điên cuồng, tuyệt lộ, tự tử nếu không có một lối thoát nào đó mở ra. Ở đây nhà thơ bế tắt chẳng biết ngõ thoát nào hơn là say và say đắm đuối cho quên hết nỗi niềm :
Say đi em ! Say đi em !
Say cho lơi lả ánh đèn
Cho cung bậc ngả nghiêng điên rồ xác thịt
Rượu rượu nữa và quên quên hết
Ta quá say rồi
Sắc ngả màu trôi
Gian phòng không đứng vững
Có ai ghì hư ảnh sát kề môi
Chân rã rời quay cuồng chi được nữa
Gối mỏi dần rơi
Trong men cháy giác quan vừa bén lửa
Say không còn biết chi đời
Nhưng em ơi !
Đất trời nghiêng ngả
Mà trước mắt Thành Sầu chưa sụp đổ
Đất trời nghiêng ngả
Thành Sầu không sụp đổ em ơi !
Bức tường thành vách sương mù u mê ám chường đầy rêu phủ u sầu kia tuy vô hình mà dữ dội kinh hồn, khiến cho người ta bị vây khổn, ngột ngạt trong lùng bùng khủng hoảng, run rẩy sợ hãi, hụt hẩng chới với bởi những trận gió từ sa mạc hư vô thổi đến một cách bất ngờ, không sao lường trước được. Trước bao nhiêu sự việc biển dâu, nhà thơ đều im lặng chấp nhận nhưng không thể bình thản, an tâm được khi tình yêu tha thiết đột nhiên chấm dứt nửa chừng. Chao ơi ! Không biết vì sao cứ bàng hoàng, thảng thốt, hỡi thuyền quyên thực nữ, hỡi thiên hương quốc sắc lặng lẽ qua cầu. Rưng rưng tiễn biệt mà đau xót lòng :
Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu
Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu
Thôi rồi tay nắm tay lần cuối
Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau
Trai lỡ phong vân gái lỡ tình
Này đêm tri ngộ xót điêu linh
Niềm quê sực thức niềm quan ải
Giây lát dừng chân cuộc viễn trình
Tóc xỏa tơ vàng nệm gối nhung
Đây chiều hương ngát lá hoa dung
Sánh đôi kề ngọn đèn hư ảo
Mơ kiếp nào xa đã vợ chồng
Quán rượu liền đêm chuốc đắng cay
Buồn mưa trăng lạnh nắng hoa gầy
Nắng mưa đã trải tình nhân thế
Lưu lạc sầu chung một hướng say
Gặp gỡ chừng như truyện Liêu trai
Ra đi chẳng biết một ngày mai
Em ơi ! Lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai ?
Còn ai đâu mà bốc cháy, say sưa nữa, khi em là người yêu, người tình, nàng thơ diễm tuyệt, là tri âm tri kỷ, chí cốt ruột rà nhất đã dứt áo ra đi. Đi là đi mất đi biệt như đóa hoa vô thường rơi tàn tạ hương sắc mong manh xuống vườn hồn tả tơi bao xác lá. Nhà thơ lãng mạn Vũ Hoàng Chương đã trọn vẹn quăng ném hết tâm tình mình vào cuộc mộng tình yêu kiều diễm, từng nốc cạn bầu rượu tình ái đến ly cuối mặn nồng bốc lửa hoan say chuếnh choáng, chàng rộn ràng dấn bước nhập cuộc để khai triển, khám phá hết những mối ưu tư thầm kín, những tình cảm nhiệt liệt thấm thía trong tận đáy lòng sâu thẳm tâm linh.
Tình và tâm cùng hòa âm thâm cảm, giao hòa thấu suốt muôn chiều tim máu sâu xa nên đã va chạm đến thần hồn vi diệu tuyệt trần Phật giáo. Thật vậy, thi ca Vũ Hoàng Chương đã tìm được một lối thoát ngoạn mục, đã phiêu nhiên bay vào phương trời bát ngát Tâm Thiền uyên áo, đóng góp một phần rất lớn vào văn học Phật giáo Việt Nam qua ba thi phẩm sáng ngời Lửa Từ bi, Ánh trăng Đạo lý và Bút nở hoa đàm đậm đà bản sắc nhân văn. Trăng lòng uyên nguyên hiển lộ, long lanh lấp lánh vô ngần :
Phật có bàn tay dẹp bất bình
Cả ngàn con mắt chiếu vô minh
Chỉ đôi tai Phật sao nghe xiết
Tiếng khóc giờ đây của chúng sinh ?
Nước mắt chúng sinh nhiều hơn nước biển đại dương là một cách diễn đạt sự thống khổ của nhân gian là vô số khổ lụy đoạn trường. Vậy bằng phép lạ nhiệm mầu nào, Đức Phật có thể ra tay cứu độ hết tất cả mọi khổ đau, trầm thống điêu linh của nhân loại được đây, hay phải tự mình chuyển hóa, thăng hoa theo thể lệ “Tự mình thắp đuốc lên mà đi ?”
Lặng lẽ âm thầm, thi sĩ sớm bắt gặp Phật giáo Thiền tông và lãnh hội được tinh túy của Thiền, cho nên hồn thơ đã chuyển sang hướng giải thoát, phong quang sáng tạo chứ không còn chìm đắm trong men say rượu, say tình như thời tiền chiến thuở xưa nữa. Cái thời buồn nôn, hư vô, chán chường ấy đã xa như tiền kiếp, thi sĩ hồi sinh lại giữa ánh hào quang Tuệ giác siêu việt của Hoa Nghiêm, Kim Cang, Bát Nhã quá độ vô cùng vô tận, rạt rào vô lượng vô biên.
Tuyệt vời làm sao, khi thi sĩ nhập định, cất lên tiếng Nguyện cầu, lời đại nguyện âm thầm thâm thiết, chuyển hóa thế giới nội tâm, thể hiện một bước nhảy đáo bỉ ngạn sang bên kia bờ. Mở đầu bài thơ, thi sĩ nêu ra một nghi vấn, một câu hỏi trọng đại trước lý vô thường, trước lẽ sinh tử luân hồi của kiếp người giữa vũ trụ mênh mông :
Ta còn để lại gì không ?
Kìa non đá lở nọ sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước xa xôi dặm về
Ta là ai ? Ta là kẻ nào trong cuộc lữ trăm năm ? Phải chăng ta là một con người sinh ra lớn lên giữa cuộc đời : Làm việc, đấu tranh, dành dụm, tích trữ vật chất và tinh thần, rồi cuối cùng tử thần vụt đến dẫn ta đi vào hố thẳm u linh, kinh hoàng nơi cõi chết mịt mù tăm tối ? Chết là chấm dứt hết tất cả mọi sự hay sao ? Thi nhân sững sờ tự hỏi : “Ta còn để lại gì không ?” Khi mà “Kìa non đá lở nọ sông cát bồi”. Chới với trước vạn vật đổi thay, đất trời thiên diễn, vô thường như thế, nhà thơ  sực thấy mình từ đời thuở nào đã xoay chuyển mãi trong vòng luân hồi sinh tử u minh, mù mù phía trước, mịt mịt phía sau, làm kẻ phong trần khách, lang thang như gã cùng tử giữa cuộc lữ muôn trùng…  Giữa muôn trùng cuộc lữ phiêu linh, một hôm bất ngờ bỗng sực thấy :
Trông ra bến hoặc bờ mê
Nghìn thu nửa chớp bốn bề một phương
Ta van cát bụi trên đường
Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này
Bờ bến nào huyễn hoặc, bến bờ nào vọng mê hỡi cõi hỗn độn phù du phủ đầy hư ảo vô minh ? Khiến cho thi nhân trong giây phút nhập thần, chợt thấy thiên thu trong một ánh chớp và bốn bề mười phương trong một giây phút thực tại bây giờ.
Bây giờ và ở đây, cuộc lữ lại tiếp tục lên đường viễn xứ, nhưng từ đây thi sĩ đã thoáng hiện thấy một cõi đi về cố quận ở bên trong tâm hồn vốn trong xanh thanh tịnh. Đó là cõi quê lòng trong trẻo xanh biếc nguyên sơ, chưa từng vướng mắc, ô nhiễm bụi phù trần, nên thi sĩ chân thành lên tiếng tỏ bày, bộc bạch một cách thiết tha “Ta van cát bụi trên đường. Dù nhơ dù sạch đừng vương gót này.”
Đi trên con đường trần gian cát bụi, thôi thì đủ thứ xanh vàng đỏ trắng, muôn màu nghìn sắc dẫy đầy vẻ hấp dẫn, quyến rũ, lôi cuốn ta vào mê lộ, túy sinh mộng tử mang mang… Nếu không tỉnh thức thì sẽ bị cuốn trôi theo đắm chìm giữa miền điên đảo, nhào lộn tồn sinh bức bách não phiền, không lối thoát. Vì thế, dù dơ bẩn hay trong sạch, dù thiện lành hay xấu ác… thì thi nhân vẫn không muốn vướng bận, không thích dính mắc vào làm chi. Đó chính là bước đi xa lìa mọi đối đãi, vượt ngoài phân biệt đúng sai, phải quấy, hơn thua, được mất… của thế giới nhị nguyên.
Biết thế nên thi sĩ thể hiện một cách sống mãnh liệt viên dung, sống hết mình, trọn vẹn say sưa với ngọn lửa thiêng đang bừng cháy trong hồn. Ngọn lửa thiêng từ cõi tâm bừng sáng chói lòa cả càn khôn vũ trụ, bay lên rực rỡ huy hoàng tận đỉnh trời thiên thanh vĩnh thúy. Với trạng thái xuất thần ấy, lời thơ lãng đãng đi về :
Để ta tròn một kiếp say
Cao xanh liều một cánh tay níu trời
Nói chi thua được với đời
Quản chi những tiếng ma cười đêm thâu
Con người đau khổ vì mãi đấu tranh, giành giật lẫn nhau theo kiểu sống thực dụng, chiếm hữu cái lợi trước mắt, sẵn sàng tàn nhẫn, chà đạp, sát hại người khác để giành lợi lộc về phần mình. Nhà thơ nhạy cảm, trực thấy rõ sự nguy hiểm của cách sống bị điều động bởi tham lam, sân hận và si mê ấy, nên có ý cảnh giác những đầu óc thực dụng, sống như máy móc, chỉ biết tính toán, so đo được mất, hơn thua, giàu nghèo, phải trái… theo kiểu ma quái lật lường, xuôi ngược hồ đồ tráo trở. Đó là loại người rơi vào duy vật chủ nghĩa với quan niệm chết là hết, nên họ chủ trương sống thỏa mãn tham dục, thỏa mãn những nhu cầu vật chất nông cạn mà thôi. “ Nói chi thua được với đời. Quản chi những tiếng ma cười đêm thâu.” Nói chi… quản chi… sá chi… những trò đời ma quỷ, oái oăm, nhà thơ mỉm cười tịch nhiên bất động trong lặng lẽ xa lìa, viễn ly tất cả. Sá gì mà chấp trước, vướng bận nhì nhằng làm chi cho mệt, phải không ?
Trên ngõ về quê quán cũ, chốn hồn tâm xanh biếc sơ nguyên của chính minh, nhà thơ mở rộng lòng ra một cách thành tâm :
Tâm hương đốt nén linh sầu
Nhớ quê dằng dặc ta cầu đấy thôi
Đêm nào ta trở về ngôi
Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian
Một phen đã nín cung đàn
Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm
Luân hồi chấm dứt thì Niết Bàn hiện ra. Niết Bàn chính là cố quận đang hiện hữu giữa trái tim mình, ngay trong lòng thanh tịnh của mình đây thôi. Chỉ cần ta “hồi đầu thị ngạn” thì hoát nhiên triệt ngộ, chứng vào cảnh giới Niết Bàn Diệu Tâm liền lập tức. Điều đó đã có nhiều người từ ngàn xưa đến nay thực hiện được  rồi, như các vị Bồ tát, thiền sư, nghệ sĩ vĩ  đại trên mặt đất.
Nhà thơ Vũ Hoàng Chương trên con đường trở về cố quận ấy đã từng giáp mặt, chứng kiến biết bao bậc thiền sư, Bồ tát thị hiện giữa cuộc đời, như vào tháng 6 năm 1963 tại Sài Gòn, ngọn lửa thiêng của Bồ tát Quảng Đức bừng cháy lên rực trời trong đêm dài tăm tối vô minh làm sửng sốt, bàng hoàng, đánh thức cơn u mê của chế độ bạo quyền Ngô Đình Diệm kỳ thị tôn giáo, đang tàn bạo cố tình tiêu diệt tín đồ Phật giáo. Ngô Đình Diệm cùng anh em gia đình trị độc tài theo Chúa Trời Thượng Đế, mê muội làm tay sai nô lệ, thừa hành mệnh lệnh từ tòa thánh Vatican đàn áp đẫm máu Phật giáo đồ Việt Nam.
Vô cùng rúng động trước ngọn lửa vô úy đầy tuệ giác sáng ngời của Bồ tát Quảng Đức, thi sĩ xuất thần sáng tạo bài thơ Lửa Từ bi bất hủ, ngọn lửa thiêng ấy sẽ còn cháy mãi đến muôn thuở thiên thu, vạn đại vĩnh hằng :
Lửa ! Lửa cháy ngất Tòa Sen !
Tám chín phương nhục thể trần tâm
Hiện thành Thơ quỳ cả xuống
Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhòa lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời mới mọc
Ánh Đạo Vàng phơi phới
Đang bừng lên dâng lên
Ôi ! Đích thực hôm nay Trời có Mặt
Giờ là giờ Hoàng đạo nguy nga
Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt
Nhìn nhau tình huynh đệ bao la
Nam mô Đức Phật Di Đà
Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay ?
Thương chúng sinh trầm luân bể khổ
Người rẽ phăng đêm tối đất dày
Bước ra ngồi nhập định hướng về Tây
Gọi hết lửa vào xương da bỏ ngỏ
Phật Pháp chẳng rời tay
Sáu ngả luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh xe quay
Không khí vặn mình theo
Khóc òa lên nổi gió
Người siêu thăng
Giông bão lặng từ đây
Bóng Người vượt chín tầng mây
Nhân gian mát rượi bóng cây Bồ Đề
Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc
Lụa hay tre nào khiến bút ai ghi
Chỗ Người ngồi : Một thiên thu tuyệt tác
Trong vô hình sáng chói nết Từ Bi
Rồi đây rồi mai sau còn chi ?
Ngọc đá cũng thành tro
Lụa tre dần mục nát
Với thời gian lê vết máu qua đi
Còn mãi chứ còn Trái Tim Bồ Tát
Gội hào quang xuống tận ngục A tỳ
Ôi ngọn lửa huyền vi
Thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác
Từ cõi vô minh
Hướng về Cực Lạc
Vần điệu của thi nhân chỉ còn là rơm rác
Và chỉ nguyện được là rơm rác
Thơ cháy lên theo với lời kinh
Tụng cho nhân loại hòa bình
Trước sau bền vững tình huynh đệ này
Thổn thức nghe lòng Trái Đất
Mong thành Quả Phúc về cây
Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Đồng loại chúng con
Nắm tay nhau tràn nước mắt
Tình thương hiện Tháp Chín Tầng xây
Từ Thơ say đến Lửa Từ bi, Vũ Hoàng Chương đã đi một bước thượng thừa hùng tráng, đầy ngoạn mục phi thường. Hồn thơ ăm ắp hơi thở hiện đại mà vẫn giữ được truyền thống Đông phương trầm mặc. Cung bậc hào hùng từ tiếng thơ ấy bay dậy luồng thanh khí như thắp lên ngọn lửa thơ rực hồng ý niềm uyên tư từ ái :
Ai là người có cánh tay hào kiệt
Trong tương lai một sớm một chiều
Đủ sức hái cành hoa làm bút viết
Những vần Thương Yêu ?
Những vần thơ yêu thương cuộc sống đã có biết bao nhiêu người tiếp tục viết và viết mãi trên tờ mây trắng thiên thanh hay giữa dòng đời mênh mông mới lạ. Đó là những tâm hồn thênh thang sáng tạo, những bạn đồng hành cùng thi sĩ như Nhất Hạnh, Bùi Giáng, Đông Hồ, Hoài Khanh, Quách Tấn, Phạm Công Thiện, Phạm Thiên Thư, Trụ Vũ…
Tâm đắc tư tưởng tự tại an nhiên, tinh thần giải thoát sinh tử của Thiền, thi sĩ tài hoa Vũ Hoàng Chương đã sống một cuộc đời tỉnh thức và siêu thức giữa bao la pháp giới, chập chùng vũ trụ vần xoay :
Bao nhiêu hạt cát bến sông này
Đã bấy nhiêu ngàn thế kỷ nay
Ta vượt ngàn năm đường ánh sáng
Từ ngoài vô tận đến nơi đây
Đêm đêm ta dõi mấy từng cao
Tìm một không gian mới lạ nào
Lấp lánh Quê Trời thơ hẹn bến
Giam mình Quả Đất mãi hay sao ?
Nhân loại ra đi chẳng một lần
Hợp tan nào khác mảnh phù vân
Trên đà tốc độ siêu quang ấy
Một chuyến đăng trình một hóa thân
Khi thấu thị được lẽ huyền vi sâu xa đó thì thi nhân đâu còn lo sợ chi những chuyện vô thường dâu bể nữa phải không ? Thôi thì chút cơ thể cát bụi phù du đã hóa thân giữa trùng trùng bụi cát, rồi một mai hội đủ nhân duyên mà tựu thành một sinh thể khác hoàn toàn mới mẻ, tinh khôi hơn. Chỉ ngậm ngùi cho người ở lại mà thôi, như thiền sư Nhất Hạnh tiếc thương thi sĩ Vũ Hoàng Chương bị chính quyền Cộng sản bắt giam đầu năm 1976 và đã ra đi vào cuối năm đó trong lặng lẽ ngậm ngùi :
Đêm này dù đã về ngôi
Hồn thơ vẫn thấy luân hồi thế gian
Bút hoa ngàn kiếp không tàn
Đuốc thơ còn cháy trên trang sử người
Có không mù mịt biển khơi
Nẻo về đã rạng chân trời thênh thang
Tỉnh say vẫn một cung đàn
Lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu
Thơ lên bay vút bồ câu
Triều âm chấn động phương nào chẳng nghe
Giấc mơ hồ điệp đi về
Biển Đông sóng vỗ kình nghê vẫn còn.
Thơ Vũ Hoàng Chương trích trong các tập Thơ say, Mây, Rừng phong, Lửa Từ bi, Bút nở hoa đàm.
Tâm Nhiên

Thứ Ba, 3 tháng 3, 2015

Tư lộn cái lềnh

                                          Blog của 5xu

Bộ trưởng Bộ Giao Thông cũng hay được gọi là Tư Lệnh.
Thời bình mà cứ như thời loạn, sắp đánh nhau đến nơi. Vậy mà cứ đòi tiến lên xã hội dân sự.
Việc sử dụng danh từ quân sự trong ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ chính trị thời sự có cái gì đó rất bệnh hoạn và có tác hại xã hội rất lớn (với ngôn ngữ kinh doanh, hoặc thể thao thì tạm được vì nó có tính đối kháng, cạnh tranh).
Căn nguyên của việc sử dụng từ quân sự trong đời thường không chỉ là tàn dư của hai cuộc chiến tranh mà là di sản chính trị của rất nhiều thế kỷ.

Từ thời Lê, hoặc ít nhất (và rõ nét nhất) là  từ thời Trịnh –Nguyễn cho tới gần đây nước Việt Nam luôn sống dưới một nhà nước độc tài (phong kiến hoặc ĐCS) và được một chính phủ quân sự vận hành. Trên là một ông vua, dưới là chính quyền quân sự do hai chúa Trịnh Nguyễn nắm ở hai đàng. Thời Quang Trung (ngoài bắc) và Thái Đức (trong nam) thì toàn tướng lĩnh nắm quyền. Thời hiện đại, Việt Nam mới manh nha phi quân sự chính quyền rất gần đây (khoảng 30 năm),bắt đầu từ những năm hậu chiến thời Lê Duẩn (lưu ý: phi chính trị quân đội và phi quân sự chính phủ là hai mặt để giải quyết cùng một vấn đề). Nhân nói đến ông Ba Duẩn, nhận thấy nước ta có Ba anh Ba.
Anh Paul Ba đi xuất khẩu lao động bằng nghề rửa bát, sau qua Châu Âu thấy làm nghề  lao động không ăn thua, anh bèn làm cách mạng. Anh Ba Duẩn cũng làm cách mạng, đánh Mỹ rồi đánh Tàu rất ác. Anh Ba Duẩn làm nhiều rất điều kỳ thú,động cơ đằng sau thì không rõ, nhưng kết quả rất đặc biệt và có ý nghĩa lâu dài với quốc dân.Ví dụ nhờ chính sách của anh Ba Duẩn mà nước VN là nước hiếm hoi trong khu vực mà người Hoa không gây được ảnh hưởng kinh tế gì. Hoặc không biết vì lý do gì mà anh Ba Duẩn và anh Sáu Búa cho phe quân đội re kèn, khiến cho VN thành chính quyền phi quân sự rất sớm, sớm hơn các nước độc tài quân sự như ở Mỹ Latin, Hàn Quốc, Myanmar, Indonesia … (thử nghĩ anh Ba mà tự phong cho mình chức thống chế xem sao). Anh Ba thứ ba là anh Ba giải phương trình. Anh Ba này ngày càng tỏa sáng, số lượng fan của anh đang tăng với tốc độ chóng mặt.

Vì sống quá lâu, hàng trăm năm, dưới chính quyền quân sự nên tâm lý nhân dân và cách hành xử luôn có xu hướng sùng bái bạo lực. Ngày xưa các vị sĩ phu và phong trào cần vương của họ, dù giương ngọn cờ yêu nước (tức là cần đoàn kết các lực lượng) nhưng vẫn sử dụng bạo lực để giải quyết những người yêu nước mà khác chính kiến với mình. Đặc biệt là với những người khác tôn giáo. Di sản tồi tệ lan qua các đảng phái chính trị chống Pháp, rồi kéo dài đến tận bây giờ. Một ví dụ là Nguyễn Phương Thảo bị các đồng chí trong đảng của mình (QDĐ) ám sát trong tù, thoát chết, chột một mắt, ra tù qua Việt Minh trở thành Nguyễn Bình, rồi trở thành ông tổ của các hoạt động đánh mìn trong nội đô Sài Gòn, tiền thân của biệt động Sài Gòn sau này
Cho đến thế kỷ 21 này, ngay ở nơi công cộng người Việt vẫn hồn nhiên xửng cồ với nhau, thậm chí với thái độ rất thô bạo, khi tranh luận hoặc tranh chấp với nhau. Thậm chí các lời đe dọa kiểu “Mày thích chết à?” vẫn được xã hội chấp nhận một cách rất bình thường. Trong khi ở một xã hội khác văn minh hơn thì đe dọa như vậy có thể dẫn nhau đến tòa án. Những lời đe dọa có bề ngoài hoa mỹ hơn kiểu như “Tôi sẽ đưa việc này lên báo” cũng có thể đưa người đe dọa vào vòng lao lí.
Nhưng thế vẫn chưa ăn thua. Ở Việt Nam người ta còn lên báo dọa “trảm” nhau.

Ông bộ trưởng giao thông là người rất hay dọa “trảm” tướng ở trên báo. Chắc chỉ có ở Việt Nam mới có kiểu chính trị gia lên báo dọa “chém” người khác từ năm này qua năm khác như thế. Ở một xã hội nào đó hiền lành hơn, chắc dân chúng thấy một ông bộ trưởng phát ngôn khát máu như vậy họ phải phát khiếp. Ở Việt Nam thì lại quần chúng mê tít. Tại sao quần chúng lại thích một phong cách lãnh đạo đậm chất đe dọa và bạo lực như vậy? Tại sao các lãnh đạo chính trị hoàn toàn dân sự lại thích “phong” mình thành thống chế rồi coi nhân viên dưới quyền mình như tiểu tướng và dọa “chém” suốt ngày. Cấp dưới có phải con lợn làng Ném Thượng đâu?
Chị phóng viên gọi bộ trưởng là tư lệnh, anh bộ trưởng dọa trảm tướng cấp dưới, mấy ngàn người đánh nhau trong tết phải nhập viện, cả làng xúm nhau đánh chết trộm chó … là các hành vi khác nhau nhưng có chung bản chất: sùng bái bạo lực, thích dùng bạo lực để giải quyết nhanh gọn vấn đề. Tâm lý ấy kéo dài hàng nhiều thế kỷ, lại càng trầm trọng hơn trong những năm gần đây khi nhân cách của văn hóa bình dân bị xuống cấp. Nhân cách của văn hóa bình dân ở Việt Nam, về cơ bản đã bị bào mòn sau hai cuộc chiến tranh và gần như mất hẳn sau những năm đổi mới hỗn loạn và man rợ. Hầu hết người Việt bây giờ là bình dân, và thẳng thắn mà nói là không thể chữa được căn bệnh tâm lý mọi rợ sùng bái bạo lực này. Không thể cứu được xã hội này nữa rồi.
Mình không cứu được mình, những phải cứu các thế hệ sau, không để  con cháu của chúng ta bị nhiễm căn bệnh ưa bạo lực kinh niên này chứ?

Việc đầu tiên và dễ thực hiện nhất, là chấm dứt việc sử  dụng các từ quân sự trong đời thường. Cách chức thì nói là cách chức, chứ trảm cái gì mà trảm. Bộ trưởng thì gọi là bộ trưởng, sao mà phải tư lệnh ngành, có mà tư lộn cái lềnh.
Sau là phải bắt chước Kant (cho tí triết vào cho sang). Ông này ngày xưa chống siêu hình giáo điều bằng cách viết cuốn sách danh tiếng nhưng không ai hiểu là “Phê phán lý tính suông”. Nay chúng ta cũng phải chống lại các kiểu học tập tấm gương đạo đức suông, học tập tư tưởng suông mà truyền thông nhà nước ra rả mấy năm nay. Học tấm gương đạo đức và tư tưởng để rồi cả xã hội cứ hơi tí là chửi bới nhau rồi nhảy tỉn nhau, thì học làm cái gì.
Công sức hô hào học tập với noi gương, nên dành ra để cố gắng dân sự hóa cái xã hội này. Dân sự hóa xã hội Việt Nam là cái duy nhất chúng ta có thể đi tắt (nhưng không đón đầu).
Muốn sánh vai cùng các cường quốc dân sự năm châu, việc đầu tiên phải dân sự hóa xã hội mình cái đã.
 ...
 Copy từ : 5xublog.org/2015/03/01/tu-lon-cai-lenh/