Thứ Hai, 7 tháng 3, 2016

Liệu Việt Nam có thể tự cải cách?[1]

 

Những ai đọc ANHBASAM nhiều tháng nay, đều có thể biết câu hỏi này là của tác giả Nguyễn Thị Từ Huy, một người viết có uy tín, uy tín bởi phương pháp tiếp cận có tính cách hàn lâm, bởi sự mạch lạc của tư duy lôgíc và sự sâu sắc phong phú trong kiến thức.

Nhưng đề tài được đề cập là vấn đề có tính bao quát lớn, vưà là vấn đề có tính lý luận cơ bản, vừa là vấn đề thực tiễn, cần nhiều dữ liệu.
Rất nhiều người đọc không giấu sự tâm đắc với những ý kiến mà tác giả nhận định, những gợi ý cho những kết luận khả dĩ.
Nhưng phải thú thật rằng theo dõi cả chín phần của bài viết, tôi chờ đợi một đáp án, khả dĩ làm dịu phần nào sự bức bối. Tuy nhiên, có vẻ như tác giả vẫn để treo câu trả lời, bởi vì, đọc xong, người đọc vẫn không thực rõ “Việt Nam có thể tiến hành cải cách hay không“? Nhưng chính gợi ý của tác gỉả là tiền đề của bài viết này.
Bài viết sẽ được trình bày thành ba phần. Phần một là Đảng cộng sản Việt Nam sẽ không tự cải cách. Phần hai Thay đổi là tất yếu. Phần ba Thay đổi bằng cách nào.
Với tính chất một bài báo, không thể hy vọng độ sâu và độ chín của các phân tích, nhưng trước một vấn đề có ý nghĩa thực tiễn lớn, tôi nghĩ có nhiều ý kiến khác nhau chỉ giúp tiệm cận chân lý. Vả lại, cả “cột đình” ” cái quạt” cùng rất nhiều những cái khác nữa mới làm ra con voi.
***
Ảnh vnexpress.net
Ảnh vnexpress.net
PHẦN MỘT – Đảng cộng sản sẽ không tự cải cách.
1- Suốt 85 năm đảng cộng sản VN không thay đổi mục tiêu
Chánh cương của Cương lĩnh đầu tiên năm 1930 do chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”
Cương lĩnh thứ hai tại Đại hội lần thứ nhất năm 1930 gọi là Luận cương chính trị, do Trần Phú biên soạn ghi “cách mạng Việt Nam là cách mạng tư sản dân quyền tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”
Cương lĩnh thứ ba, Đại hội đảng toàn quốc lần thứ hai ( tháng 2-1951) gọi là “Luận cương cách mạng Việt Nam”, do Trường Chinh trinh bày tiếp tục “xác định nhiệm vụ cơ bản hiện thời của cách mạng là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập thống nhất, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân; gây cơ sở vật chất – kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội”
Cương lĩnh thứ tư được gọi là “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam (6-1991)” do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII họp tại thủ đô Hà Nội từ ngày 24 đến 27-6-1991 vẫn khẳng định
“phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”
Cương lĩnh thứ năm, năm 2011 là cương lĩnh “bổ sung và phát triển Cương lĩnh năm 1991″ khẳng định “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
Cương lĩnh này xác định Quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa là một giai đoạn phức tạp cần phải “kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”.
Nghị quyết Đaị hội XII 28/01/2016 “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy, Mục tiêu xã hội chủ nghĩa trên cơ sở nền tảng Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hòn đá tảng, là linh hồn, là sợi chỉ xuyên suốt sự tồn tại của đảng.
2- Đổi mới không phải là cải cách
“Đổi mới, đổi mới đồng bộ và toàn diện” là những từ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, theo cách nói hàn lâm là có tần số xuất hiện nhiều nhất trong các văn kiện chính trị cuả đảng cộng sản Việt Nam, đặc biệt là trong tất cả các báo cáo chính trị, các nghị quyết Đại hội từ những năm 80 cuả thế kỷ trước, tức là suốt từ Đại hội VI cho đến Đại hội XII mới kết thúc ngày 28/01/2016. Thực sự là đảng cộng sản đang rất quyết tâm đổi mới. Nhưng nếu tìm từ ‘cải cách’ thì chỉ thấy ‘cải cách hành chính’, ‘cải cách giáo dục đào tạo’, ‘cải cách chế độ tiền lương’, ‘cải cách thông tin tuyên truyền’ v.v…mà không thấy có cải cách chính trị, cải cách tư tưởng. Nếu hiểu cải cách là bỏ hẳn cái cũ và thay bằng cái mới, thì rõ ràng chúng ta thấy, đảng cộng sản chỉ thay công cụ, thay phương tiện, không thay đổi mục tiêu. Mục tiêu đó là Xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội. Mục tiêu này cùng với lấy “Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ Nam cho mọi hành động” vẫnkhông có gì thay đổi từ Luận cương chính trị cuả Trần Phú tới Cương lĩnh 1991, cương lĩnh bổ sung 2011, Hiến pháp 2013, Nghị quyết đại hội XI, Nghị quyết Đại hội XII mới đây. Đó là tư tưởng nhất quán, bất di bất dịch. Đó là cái Bất Biến.
Trong buổi lễ kỷ niệm 70 năm ngày thành lập đảng 3/2/2000, tổng bí thư Lê Khả Phiêu tuyên bố: “Chúng ta đã đổi mới, nhưng chúng ta quyết không đổi mầu. Những khó khăn và những thử thách sẽ không ép buộc được chúng ta đi ra ngoài con đường xã hội chủ nghĩa”.
Những năm cuối 70, đầu 80 thế kỷ trước, chế độ cộng sản đứng trước nguy cơ tan vỡ, sụp đổ. Vừa ra khỏi cuộc chiến tranh tàn khốc kéo dài, sa lầy khơ me đỏ trên đất Cămpuchia, chiến tranh biên giới với Trung quốc, cấm vận của Hoa kỳ, một miền Bắcxơ xác chạy ăn từng bữa vì hợp tác hóa, một miền Nam tan hoang tiều tụy sau cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Hoặc chết hoặc trả ruộng đất về cho nông dân, bỏ ngăn sông cấm chợ, giải khóng sản xuất, giải phóng thị trường.
Nguyên lý “từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đọan phát triển tư bản chủ nghĩa” buộc phải nhường chỗ cho “vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam”. Và lý thuyết “giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội” ra đời, thừa nhận nền kinh tế đa sở hữu, đa thành phần. Đây không phải là kết qủa của thay đổi nhận thức mà là gỉải pháp tình huống, cứu cánh tức thời. Cuộc đấu tranh giữa hai con đường vẫn giữ nguyên tính gay gắt giữa cách mạng và phản cách mạng, giữa cách mạng và kẻ thù của nhân dân, dân tộc.
Nghị quyết TW 4 Đại hội XI ngày16/01/2012 xác định “các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tăng cường hoạt động chống phá, chia rẽ nội bộ Đảng và phá hoại mối quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân, làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng”.
30 năm đổi mới từ Đại hội 6 năm 1986, nhưng Nghị quyết Đại hội XII 28/01/2016 vẫn ghi “phải kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ”.
3- Sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước là thành quả của cách mạng vô sản
Cách mạng xã hội chủ nghĩa là qúa trình phi sở hữu hóa xã hội.
Lị̣ch sử cách mạng vô sản Việt Nam trong cương lĩnh của Trần Phú là cuộc cách mạng gọi là “tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản” được gói gọn thành khẩu hiệu “trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”, rồi được tóm gọn mang tính thiết thực là “đánh đổ phong kiến địa chủ, giành ruộng đất về tay nông dân”. Khẩu hiệu này đánh trúng vào ước nguyện ngàn đời của tầng lớp nông dân nghèo khổ đang chiếm tới 98% dân số Việt Nam lúc bấy giờ. Đó là sức mạnh giúp cho cho đảng cộng sản Việt Nam với chỉ gần 5000 đảng viên giành được chính quyền.
Nhưng con đường đi lên xã hội chủ nghĩa là con đường phi sở hữu hóa tư liệu sản xuất theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin, nhằm gỉải quyết mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của lực lượng sản xuất với tính tư hữu tư bản chủ nghĩa của quan hệ sản xuất, tức là tính tư hữu đối với phương tiện sản xuất.
Rập theo khuôn mẫu của Liên xô những năm sau Đại chiến II và của Trung quốc những năm 60, hai quốc gia lần lượt được coi là thành trì của chủ nghĩa Mác Lênin, thành trì kiên cố của phe xã hội chủ nghĩa, Chiến dịch tập thể hóa, hợp tác hóa nông nghiệp, cùng với quốc hữu hóa và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh trên toàn miền Bắc những năm 60, ở miền Nam sau giải phóng bắt đầu từ năm 78, xoá sạch dấu vết của sở hữu tư nhân trên toàn cõi Việt Nam. Đây là một sai lầm nghiêm trọng dẫn đễn đến sự tiêu huỷ hoàn toàn, triệt để mọi hạ tầng cơ sở của một nền kinh tế thông thường, biến Việt Nam thành một đất nước tan hoang, ngược trở lại thời kỳ đồ đá, nhưng vẫn tiếp tục được coi là một thành quả cách mạng, theo khía cạnh là thủ tiêu tiềm lực của các đối trọng chính trị, của các lực lượng đội kháng, tiềm ẩn trong chế độ tư hữu ruộng đất và tư hữu tư bản chủ nghĩa trong công nghiệp, công thương, kẻ thù của cách mạng vô sản. Điều này phù hợp với nguyên tắc chuyên chính vô sản của Lênin, và sau này thành công cụ tập quyền cá nhân của Stalin, là nguyên tắc được đảng cộng sản các nước tôn thờ như một vũ khí vô địch của cách mạng.
Điều 4 Luật đất đai ra đời năm 2013 và được sửa đổi năm 2015 vẫn ghi “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”, bất chấp sự phản đối của toàn dân, ý kiến đóng góp của rộng rãi mọi tầng lớp tinh hoa của xã hội.
Quốc hữu hóa đất đai, quốc hữu hóa toàn bộ tài nguyên khoáng sản, toàn bộ rừng biển, quốc hữu hóa toàn bộ công xưởng, nhà máy, xí nghiệp tư nhân là thành quả to lớn của cách mạng vô sản trên con đường xóa bỏ sở hữu để tiến tới xã hội chủ nghĩa, dù phải chấp nhận tạm thời cơ chế đa sở hữu, chấp nhận cơ chế thị trường, chỉ là giải pháp cho thời kỳ quá độ để giữ ổn định xã hội, để bảo vệ sự tồn tại của chế độ. Sau khi thời kỳ quá độ này hoàn thành, các thành phần kinh tế tư nhân, các hình thức sở hữu tư nhân sẽ dứt khoát bị dẹp bỏ.
Cương lĩnh chính trị bổ sung và phát triển 2011 nói, “đến giữa thế kỷ XXI, chúng ta phải xây dựng xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”.
4- Hoà hoãn với Trung Quốc để bảo vệ chế độ
Chính danh cuả cách mạng Việt Nam được dựng trên nền tảng chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Xa rời chủ nghĩa Mác, xa rời quốc tế cộng sản là biểu hiện rời bỏ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, là phản bội cách mạng, là không còn tính chính danh. Trung quốc có vai trò thay thế Liên xô là thành trì duy nhất còn lại của phong trào cộng sản quốc tế, trụ cột của lý tưởng cách mạng vô sản toàn cầu.
Duy trì mối quan hệ hữu nghị với đảng cộng sản Trung Quốc là nguyên tắc trong điều lệ sinh hoạt tư tưởng và công tác xây dựng đảng. Bất chấp mọi mâu thuẫn xung đột về quyền lợi hay chủ quyền quốc gia, đảng cộng sản Trung quốc luôn được coi là đồng minh ý thức hệ tin cậy nhất, chỗ dựa bền vững nhất cho chế độ độc đảng cộng sản cai trị, vì vậy mới có cách gọi các xung đột là “xích mích của anh em trong nhà”.
Một trong những cơ chế gắn bó mật thiết giữa hai đảng mà không một mối quan hệ nào có được, đó là Hội thảo Lý luận hàng năm, được tổ chức luân phiên, một năm tại Việt Nam, một năm tại Trung quốc, giữa hai uỷ viên bộ chính trị, nắm giữ trách nhiệm lý luận và tư tưởng của mỗi đảng, cùng với khoảng 50 cán bộ nghiên cứu lý luận cao cấp của mỗi bên. Nguyễn Phú Trọng là một bên đồng sáng lập, năm 2003. Đây là cơ chế vừa đảm bảo tính trung thành với chủ nghĩa cộng sản của hai đảng, vừa là cơ chế giải quyết các xung đột mọi phương diện thông qua thương lượng trên nền nguyên tắc của tinh thần quốc tế cộng sản. Việc mỗi bên lập viện bảo tàng thành tựu Hội thảo và tổ chức kỉ niệm, tổng kết thành quả mỗi kỳ 5 năm là cơ chế đảm bảo tương hỗ cho sự tồn tại cuả chế độ như một đồng minh. Hội thảo gần đây nhất là Hội thảo lần thứ XI, do Chủ tịch Hội đồng lý luận Tw Đinh Thế Huynh, uỷ viên bộ chính trị, trưởng ban tuyên giáo TW dẫn đầu phía Việt Nam, và Lưu Bảo Châu, uỷ viên bộ chính trị đảng cộng sản Trung Quốc, bí thư Ban bí thư và là trưởng Ban tuyên truyền TW đảng cộng sản Trung Quốc dẫn đầu, họp tại Thượng Hải, ngày 17/06/2015.
Không còn cơ chế Hội thảo lý luận thì cũng không còn Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan.
5- Thúc đẩy quan hệ với Mỹ cũng chỉ để bảo vệ chế độ
Quan hệ với Mỹ luôn là nhu cầu và nguyện vọng cuả lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, trước hết vì Mỹ là một đảm bảo chắc chắn cho phát triển và tăng trưởng kinh tế, một đảm bảo cho sự ổn định của xã hội, cũng có nghĩa là ổn định của chế độ.
Một khía cạnh khác là Mỹ vốn không bao giờ có ý định bành trướng lãnh thổ, quan hệ với Mỹ không bị đe dọa chủ quyền, trong khi trên thực tế, với tư cách người giữ trật tự thế giới, Mỹ là người có vai trò đặc biệt có ảnh hưởng tới khả năng bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trước nguy cơ và áp lực bành trướng, chiếm đoạt lãnh thổ, lãnh hải của láng giềng Trung quốc.
Nhưng Mỹ là quốc gia cổ súy tự do dân chủ, là quốc gia luôn đứng đầu thế giới trong cuộc chiến chống độc tài chính trị và vi phạm nhân quyền, trên quy mô địa cầu. Ở khía cạnh này, Mỹ là kẻ thù của đảng. Vì vậy quan hệ với Mỹ trước hết phải được đảm bảo không nhằm lật đổ hay thay đổi chế độ.
Chuyến thăm Mỹ theo lời mời cuả tổng thống Mỹ OBAMA được bà Hillary Clinton chuyển tới Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từ tháng 7/2012, nhưng mãi ba năm sau, ngày 5/7/2015 mới được thực hiện. Không phải Đảng cộng sản Việt Nam thiếu nhiệt tình. Đây là ước muốn bất ngờ đối với toàn đảng và với chính bản thân ông Trọng. Lời mời của tổng thống Mỹ là một chứng chỉ cho tính chính danh đang chìm trong khủng hoảng của đảng cộng sản. Nhưng trước hết phải khẳng định lời mời không phải là một cái bẫy chính trị, chính phủ Mỹ sẽ lợi dụng chuyến thăm để gây áp lực dân chủ hóa xã hội Việt Nam, tạo dựng các nhân tố thay đổi chế độ trong tương lai. Một chiến dịch thẩm soát được tổ chức hết tốc lực, bất chấp mọi tốn kém. Phải soi xét tất cả các góc khuất, phát hiện mọi bí ẩn. Phải xét từng từ trong các văn bản sẽ phải đưa ra ký kết. Trước hết và trên hết, thể chế cộng sản độc đảng Việt Nam phải được thừa nhân như một chính thể chính đáng, một thứ chủ quyền quốc gia, bất khả xâm phạm. Chuyến thăm Mỹ vừa kỳ lạ vưà bất ngờ của ông bí thư Hà Nội Phạm Quang Nghị, một nhân vật không chức vụ trong chính phủ, không đại diện Thủ đô, một nhân vật thuần tuý chính trị, không tương ứng với bất kỳ tư cách nào của chínmh phủ Mỹ, được ném đi như viên đá dò đường, vào ngày 21/07/2014, đúng một năm trước ngày ấn định chính thức. Sau nữa là an ninh chính trị, uy tín ngọai giao, và cuối cùng là an ninh cá nhân cuả tổng bí thư phải được đảm bảo tuyệt đối. Chuyến công du 5 ngày, từ 15 đến 20/03/2015 của bộ trưởng công an Trần Đại Quang là thẩm định lần cuối, là đảm bảo cho việc hoàn tất mọi công tác chuẩn bị.
Nhưng dẫu cho sự thân thiện cởi mở chân thực trong suốt hai mươi năm quan hệ bình thường giữa hai nước là có thật, mối nghi ngờ về một đe dọa “diễn biến” “chuyển hoá” đã khiến tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng buộc phải lợi dụng lễ kỉ niệm 100 ngày sinh của cố tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, ngày 1/07/2015, đúng bốn ngày trước ngày thăm chính thức để chuyển thông điệp tới tổng thống OBAMA và chính phủ Mỹ, rằng “Trong điều kiện nước ta, không có sự cần thiết khách quan để lập nên cơ chế chính trị đa nguyên, đa đảng đối lập. Thừa nhận đa đảng đối lập có nghĩa là tạo điều kiện cho sự ngóc đầu dậy ngay tức khắc và một cách hợp pháp các lực lượng phản động… hoạt động chống Tổ quốc, chống nhân dân, chống chế độ. Đó là điều mà nhân dân ta dứt khoát không chấp nhận”.
6- Chống tham nhũng chỉ để bảo vệ đảng, bảo vệ chế độ.
Mặc dù Luật phòng chống tham nhũng được ban hành từ 29/11/2005, nhưng tham nhũng không hề suy giảm mà ngược lại, đã trở thành một tệ nạn phổ biến tràn lan, trên toàn bộ hệ thống xã hội, như phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nói : “người ta ăn của dân không từ một thứ gì”. GS. Hoàng Chí Bảo, Ủy viên Hội đồng lý luận Trung ương, cũng nói rất đúng rằng “Giờ có cả tham nhũng trong chính sách, tham nhũng trong chính trị chứ không chỉ có tham nhũng trong kinh tế. Tham nhũng giờ không phải là tham nhũng vặt mà là tham nhũng lớn, không chỉ tham nhũng cá biệt mà còn thành cả hệ thống.”
Đấy là biểu hiện bất lực của pháp luật. Chính ông Trọng cũng phải thừa nhận, “muốn chống được tham nhũng phải chống ngay trong các cơ quan chống tham nhũng”. Ông Thủ tướng là trưởng ban TW phòng chống tham nhũng, nhưng chính ông này là một đối tượng tham nhũng. Nhưng thu quyền trưởng Ban phòng chống tham nhũng vào tay, thì ông chỉ làm được việc gạt bỏ ông Dũng và một loạt những phần tử tham nhũng khác. Nhưng nguyên nhân, gốc rễ của tham nhũng vẫn còn nguyên.
Luật Phòng chống tham nhũng 2005 định nghĩa “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi. ” và tài sản có khả năng tham nhũng cao nhất là những tài sản công và những loại tài sản không xác định được sở hữu, như đất đai, tài nguyên, các tài sản thuộc vốn và tài sản nhà nước, các tập đoàn, các tổng công ty quốc doanh.v.v..
Như vậy, rõ ràng giải pháp cho phòng chống tham nhũng phải cơ bản có hai mặt. Một là tính tối thượng và độc lập của Pháp luật. Nhưng nghị quyết đảng nói quyền lực cuả nhà nước là thống nhất. Lập pháp hành pháp và tư pháp được phân công tách bạch về chức năng nhưng thống nhất về mục tiêu chính trị. Mà mục tiêu chính trị là độc quyền của đảng với những con người bằng xương bằng thịt là bộ chính trị. Thực chất cuả sự thống nhất này là cả ba cơ quan đều chịu sự phân công và điều chỉnh của bộ chính trị. Hai là sở hữu hóa tất cả mọi lọai tài sản. Nhưng đất đai, tài nguyên khóang sản, rừng, biển, các loại tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện làm chủ sở hửu. Nhà nước là tất cả, nhưng Nhà nước là vô hình, thực chất mọi tài sản kể trên kia đều là tài sản vô chủ. Nếu phi chính trị hóa Lập pháp, và Tư pháp, nếu sở hữu hóa mọi tài sản công, thì chủ nghĩa xã hội tự tan vỡ, đảng cộng sản tự tiêu tan.
6- Ông Trọng không phải là người cải cách
Ông Nguyễn Phú Trọng không phải là người có tư tưởng cải cách.
Ông Trọng là người ít xuất hiện trên truyền thông đại chúng và rất hạn chế phát ngôn trước công chúng. Ông có ý thức trong việc tránh gây dư luận. Tuy nhiên, không khó để thấy ông chính là tảc giả của cái chế độ hiện nay của nhà nước cộng sản Việt Nam.
Trong lịch sử, Chủ tịch đảng, Tổng bí thư đảng từ Hồ Chí Minh, Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Trường Chinh, Lê Duẩn thường đồng thời là linh hồn, là cột trụ lý luận Trung ương, nền tảng tư tưởng của toàn đảng. Sau cái chết của Nguyễn Văn Linh, nền lý luận của đảng cộng sản bắt đầu thời kỳ khủng hoảng, cùng với sự sụp đổ của Liên xô, ngọn cờ đầu của chủ nghĩa chủ nghĩa Mác Lênin và phong trào cộng sản quốc tế, thành trì kiên cố của phe xã hội chủ nghĩa. Tổng bí thư Đỗ Mười, một người mà chính cố thủ tướng Phạm Văn Đồng gọi là một “người võ biền”. Nền lý luận thực sự không còn gì sau hai nhiệm kỳ làm Tổng bí thư của Nông Đức Mạnh. Chính lúc đó, Nguyễn Phú Trọng, nguyên Tổng Biên tập Tạp chí cộng sản, xuất hiện như vị cứu tinh của nền lý luận cộng sản Việt Nam. Năm 2001vừa làm bí thư Hà Nội vừa kiêm chủ tịch Hội đồng lý luận TW, phụ trách việc soạn thảo các văn kiện chính trị chuẩn bị Đại hội đảng lần thứ X. Có thể coi là từ lúc này, ông trở thành kiến trúc sư trưởng của chế độ. Cương lĩnh chính trị năm 2011 bổ sung và phát triển Cương lĩnh 1991, chính là sự khẳng định tư tưởng nhất quán của ông kế tục tư tưởng của Nguyễn văn Linh, trung thành tuyệt đối với lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa Mác Lê nin.
Ông là người đầu tiên trong số uỷ viên Bộ chính trị nói rõ quan điểm không chấp nhận đa nguyên đa đảng. Trả lời phỏng phấn thông tấn xã Ấn độ ngày 23/02/2010, trong chyến thăm Ấn Độ với tư cách Chủ tịch Quốc Hội, ông Trọng khẳng định “Việt Nam không có nhu cầu khách quan để đa nguyên, đa đảng”.
Ngày 30/06/2015, trong lễ kỷ niệm 100 ngày sinh cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, ông một lần nữa tuyên bố “dứt khoát không chấp nhận đa nguyên đa đảng”… “không để hình thành đảng chính trị đối lập”.
Tháng Hai, năm 2013 đánh giá các kiến nghị sửa đổi Hiến pháp của 72 nhân sỹ, trí thức có uy tín, đại diện giới tinh hoa trong nước, ông nói “Vừa rồi đã có các luồng ý kiến, cũng có thể quy vào được là suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.”
Sau đó ông quy chụp “Xem ai có tư tưởng muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không? Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không? Có tam quyền phân lập không? Có phi chính trị hóa quân đội không? Người ta đang có những quan điểm đấy, đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng đấy. Thế là suy thoái chứ còn gì nữa. Tham gia khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể, thì nó là cái gì? Nên phải quan tâm xử lý những điều đó.”
Ông nghiền ngẫm để cho ra được nghị quyết 4, nhằm kết tội “suy thoái, diễn biến”. Ông phát động chiến dịch luân chuyển cán bộ để tẩy não, để thay máu bộ máy quyền lực, để tạo không khí khủng bố trong toàn đảng và toàn xã hội, chỉ với một mục đích duy nhất là bảo vệ sự kiên cố bất khả chuyển hóa của lập trường Mác Lênin, của chế độ cộng sản độc đảng, của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Cương lĩnh 2011 của đảng ghi: “Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, còn ông thì nói: có lẽ phải đến giưã thế kỷ này mới kết thúc giai đoạn quá độ. Rồi ông lại tự hỏi “Đến hết thế kỷ này không biết đã có Chủ nghĩa Xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa….”
Khoan chưa tranh luận với ông về cái chủ nhĩa xã hoàn thiện của ông là gì và có tồn tại hay không, điều chúng ta quan tâm ở đây là sự chết cứng trong tiềm thức tư duy của ông. Cái ảo ảnh không tưởng xuất hiện trên thế giới từ gần hai thế kỷ nay vẫn còn nguyên trong đầu ông như chất kết tủa, là bằng chứng không thể chối cãi rằng ông Không phải là người cải cách.
Kết luận
Trong phần kết bài ” Việt Nam có thể tiến hành cải cách hay không?” Tác giả Nguyễn Thị Từ Huy có viết:
Chỉ có một số rất ít người nhìn vào sự liêm khiết về tiền bạc của ông mà đặt một hy vọng mong manh rằng ông có thể thực hiện các cải cách cần thiết. Trong số rất ít này có tôi, người viết bài này.
Như vậy, trong số rất ít người ấy, không có tôi. Có thể tôi chưa có đủ lý lẽ, nhưng với những gì tôi thấy tới lúc này, thì tạm thời, tôi không nói khác được.
Paris
05/03/2016
© Bùi Quang Vơm
© Đàn Chim Việt